công dụng của mỡ hổ
Chương 154: Đô Đô, Đô Đô, Đô Đô"Dừng ở đây là được rồi."Chiếc Sedan màu đen dừng trước cổng khu nhà, người phụ nữ già nua thân hình gầy …
Tác dụng của cao hổ cốt. Cao hổ cốt có vị mặn, tính ấm, vào được hai tởm can và thận. Bổ chăm sóc cơ thể + phòng phòng các bệnh dịch tương quan cho xương khớpBổ dương, trục phong hàn, trấn thống (giảm đau).Làm dũng mạnh gân cốt, trừ phải chăng.Chữa các bệnh tê rẻ, đau nhức gân xương, vận tải khó khăn, tuỳ thuộc teo quắp, thoái hóa xương khớp, hiện
Những công dụng của mỡ trăn Dùng để triệt lông. Sở dĩ, mỡ trăn có công dụng triệt lông là do trong thành phần của nó có các chất béo tự nhiên, các chất béo này tác động đến lông: Phospholipid: Có tác dụng làm mềm và làm suy yếu nang lông . Đây được xem là hành phần
Vay Tienonline Me. Xương Hổ Xương hổ và cao hổ cốt là một vị thuốc rất được tín nhiệm trong nhân dân, chủ yếu dùng trong những bệnh đau xương, tê thấp, đi lại khó khăn, đau nhức. Còn dùng trong những bệnh cảm gió, điên cuồng. Có khi dùng làm thuốc bổ, nhưng thường hay dùng trong bệnh tê thấp nhức mỏi. Việc xác định giá trị chữa bệnh gặp khó khăn vì ít khi người ta chỉ dùng riêng xương hổ mà thường dùng nó phối hợp với nhiều vị thuốc khác. Xương hổ lại hiếm, cao hổ cũng thường nấu lẫn với xương nhiều động vật khác. Sinh Long Đường xin giới thiệu với bạn đọc từng bài thuốc có cao hổ cốt, từng công dụng của các bộ phận trên cơ thể hổ đối với việc phòng và chữa bệnh. Đơn thuốc kinh nghiệm + Hóc xương dùng xương Cọp tán bột uống với nước lã Ngoại Đài Bí Yếu. + Trị chứng hay quên và hồi hộp, dùng Hổ cốt ngâm sữa, nướng khô, Bạch long cốt chế, Viễn chí sao, ba vị tán bột, uống với nước Sinh khương, uống liên tục 3 ngày, uống lâu càng thêm thông minh Dự Tri Tán – Vĩnh Loại Kiềm Phương. + Trị mông và đùi, hai ống chân đau nhức, mới đau hay đã lâu, dùng 60g Hổ hĩnh cốt nướng vàng giã nát 30g Linh dương giác, 60g Bạch thược cắt ra, cả 3 vị dầm vào rượu cho được 7 ngày, mùa lạnh phải để 10 ngày, mỗi ngày uống1 chén, uống khi đói bụng Bính Bộ Thủ Tập Phương. + Trị lưng gối đau co rút nhức nhối khó chịu, dùng một bộ xương sống và xương ống chân trước đập vỡ rồi cho cả lên trên cái bàn sắt, ở dưới phải đun lửa vừa vừa, bao giờ mỡ chảy ra thì dầm vào bình rượu bịt kín, mùa ấm dầm 7 ngày, mùa lạnh dầm 3 ngày, mỗi ngày uống 3 lần, tùy sức mà uống đến 3 tể mới khỏi Hải Thượng Phương. +Trị chứng Bạch hổ phong’, đau nhói các khớp xương và hai chân sưng nóng, dùng 30g Hổ hĩnh ngâm với sữa, nướng vàng, 30g Hắc phụ tử chế, hai vị đều tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g với Rượu Kinh Nghiệm Lương Phương. + Trị gân xương đau nhói, dùng xương Hổ và Thông thảo sắc đặc, uống nửa bát, uống khi đói bụng, uống rồi đắp chăn một lúc nằm cho ra mồ hôi, nhưng không nên uống nóng hại tới răng và không nên cho trẻ con uống vỉ sợ răng không mọc được Thực Liệu Bản Thảo. + Trị kiết lỵ ra máu, ăn không được đã lâu ngày, dùng xương Cọp nướng vừa xém, tán bột uống ngày 3 lần, mỗi lần một thìa nhỏ Trương Đại Trọng Phương. + Trị trĩ, sa trực trường, dùng 2 cái hổ hĩnh cốt, tẩm 60g mật nướng đỏ, tán ra bột, làm viên to bằng hạt đậu, mỗi sáng dậy uống 20 hoàn, với Rượu ấm Thắng Kim Phương. + Chó cắn, dùng xương Cọp tán bột, uống với nước lã và rắc bột vào chỗ bị cắn Tiểu Phẩm Phương. + Bỏng lửa dùng xương Cọp đốt cháy tán bột mà bôi Củng Thị Phương. + Lở chân, sùi vảy, hõm da Dùng Trần bì nấu rửa những chỗ lở cho sạch, tán xương cọp rắc vào Tiên Dân Đồ Soán Phương. + Trị lịch tiết thống phong’ đau nhức các khớp dùng Hổ hỉnh cốt, sao với Rượu 90g, Một dược 7 lượng tán bột, lần uống 6g với Rượu nóng, ngày 3 lần Thánh Tế Tổng Lục. + Trị lịch tiết’, phong thấp khi đau chỗ này khi đau chỗ khác, các khớp đều đau không chịu nổi, dùng Hổ đầu cốt 1 cái ngâm Sữa tô sao vàng, đâm vụn bọc trong lụa ngâm trong 2 đấu rượu trong 5 đêm, uống từ từ Thánh Huệ Phương. + Trẻ con rụng tóc, hói tóc dùng Hổ cốt tán bột trộn dầu bôi vào Phổ Tế Phương. + Trị đau nhức khớp Cao hổ cốt ngâm Rượu uống Hổ Cốt Tửu – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách. + Trị đau nhức khớp Cao hổ cốt, Phụ tử, 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 3g ngày 2 lần với rượu Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách. + Trị hàn thấp nhập lạc, gân xương đau ê Cao hổ cốt, Mộc qua, Xuyên khung, Ngưu tất, Đương quy, Thiên ma, Ngũ gia bì, Hồng hoa, Tục đoạn, Ngọc trúc, Tần giao, Phòng phong, Tang chi Hổ Cốt Mộc Qua Tửu – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách. + Trị trẻ con yếu xương, người già thận hư xương yếu, đau thắt lưng, yếu chân Hổ hỉnh cốt, Mộc qua, Thiên ma, Nhục thung dung, Ngưu tất, Phụ tử, các vị bằng nhau. Rẩy Rượu tán bột làm viên, lần uống 6g với nước Hổ Cốt Tứ Phiến Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách. + Trị trẻ con yếu xương, người già thận hư xương yếu, đau thắt lưng, yếu chân Cao hổ cốt 30g, Quy bản 120g, Hoàng bá nửa cân. Tri mẫu 30g, Thục địa, Trần bì, Bạch thược, mỗi thứ 60g, Toả dương 30g 15g, Can khương 15g, Tán bột hồ làm viên, lần uống 9g ngày 2 lần Hồ Tiềm Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách. Tham khảo Xương cọp làm gối đầu thì nằm ngủ yên không chiêm bao thấy những sự ghê sợ, hoặc treo lên giữa cửa đi vào trừ được ma quỷ Bản Thảo Tập Chú. Xương cọp chữa được chứng gân xương bị co rút không cử động được, lại chữa được thương hàn, cơn sốt rét, đau bụng và chó cắn Dược Tính Bản Thảo. Lấy xương cọp nấu nước tắm, người lớn thì trừ được phong đau các khớp xương và sưng thũng, trẻ con thì trừ được các loại phong đau nhức khớp, ác sang, ghẻ lở, động kinh, sau lớn lên không bệnh tật Thực Liệu Bản Thảo. Cọp sở dĩ khỏe là nhờ xương ống chân của nó. Xem như lúc đó đã chết mà vẫn đứng trơ trơ không ngã, cho nên mới chữa được chứng mỏi gối chùn chân Bản Thảo Hội Biên. + Sách Nhĩ Nhã nói rằng Thứ hổ lông trắng gọi là Sạn miêu’, thứ trắng gọi là Hàm’ thứ đen gọi là Dục’ , thứ có 5 móng chân gọi là Khâu, thứ như Hổ mà không phải gọi là Bưu’ và Hổ có sừng gọi là Tê’ Bản Thảo Cương Mục. + Ngoài ra Hổ còn cho các vị sau để làm thuốc . Hổ Cốt Tửu’ Rượu cao hổ cốt, người ta chế bằng cách lấy một bộ ống chân Hổ sao vàng giã nhỏ, rắc men ủ thành Rượu, hoặc cho vào cái bao bằng vải rồi dầm. Để chữa đau trong ống chân, nhức khớp xương, thận kém, bàng quang hàn. Hổ nhục Thịt hổ, có vị chua, khí bình, không độc. Trị buồn nôn, hay nhổ nước miếng, tăng sức. Đời Đường trong Thực Liệu Bản Thảo’ Mạnh Sằn ghi rằng ăn thịt Hổ chữa được cơn sốt rét và trừ các khí. Còn Đào Hoằng Cảnh lại cho rằng ăn thịt hổ không nên ăn nóng vì sợ rụng răng. . “Hổ đỗ” Dạ dày hổ, lấy dạ dày tươi, còn nguyên cả đồ ăn, để lên trên tấm ngói mới sao cháy tán bột. Chữa chứng ăn vào nôn ra. Lấy bột dạ dày hổ 1 cái trộn với Bình Vị Tán’ 30g, mỗi lần uống 9g với nước nóng. . Hổ thỉ’ Phân hổ, lấy phân hổ đốt cháy tán bột, uống với rượu chữa chứng ghẻ lở. Đời Minh sách Bản Thảo Cương Mục’ Lý Thời Trân nói rằng phân hổ chữa nhọt độc, trĩ, hóc xương các loài thú. . “Hổ chi” Mỡ hổ dầm với rượu nóng uống chữa được thương tích do đập đánh, chấn thương. Mỡ hổ trộn với Dầu mè, rượu nóng uống chữa được chứng ăn vào mửa ra. . “Hổ thận” Thận hổ, ăn quả Thận hổ thái mỏng bóp dấm thanh và Gừng chữa được loa lịch lao hạch cổ. . “Hổ tình” Tròng mắt hổ. Sách Lôi Công ghi rằng, dùng mắt Hổ phải hỏi cho biết con đực hay con cái, già hay trẻ, và đâm chết hay bắn chết, nếu bị bắn thuốc độc thì không dùng. Khi dùng phải trộn với huyết dê một đêm, sáng ngày vớt ra, rồi đun lửa vừa vừa sao khô, tán bột. Lý Thời Trân nói rằng, bài thuốc trong Thiên Kim chữa chứng điên có dùng Hổ Tình Thang’ và Hồ Tình Hoàn’, đều ngâm Rượu, sao khô, ủ, Đời Đường sách Thực Liệu Bản Thảo’ của Mạnh Sằn cho rằng mắt hổ chữa được cơn sốt rét và trẻ con phát sốt kinh sợ. Đời Tống, sách Bản Thảo Nhật Hoa’ cho rằng mắt hổ chữa các chứng bệnh trẻ con như cam, giật mình khóc vì khách lạ, khóc dạ đề, an thần, định chí. Đời Minh, sách Bản Thảo Cương Mục’ Lý Thời Trân cho rằng lòng mắt hổ chữa đau mắt có mây và làm cho mắt sáng thêm. . Hổ cao’ Cao mỡ hổ, lấy mỡ hổ cô lửa cho đặc như cao, chữa chó cắn bị lở ra, Đời Đường sách Thực Liệu Bản Thảo’ Mạnh Sằn ghi rằng cao mỡ hổ bôi vào hậu môn chữa các chứng trĩ và đi cầu ra máu. Đời Minh sách Bản Thảo Cương Mục’ Lý Thời Trân nói cao mỡ Hổ chữa được chứng ăn vào mửa ra, trẻ con lở đầu, xùi vẩy trắng. Ăn vào mửa ra thì uống trong, lở loét thì lấy mỡ chiên lên rồi bôi. . Hổ tỵ’ Mũi hổ, mũi hổ chữa chứng điên và trẻ con bị động kinh, Đời Nam Bắc triều, Đào Hoằng Cảnh nói, mũi Hổ treo lên ở cửa ra vào thì sinh quý tử. . Hổ đởm’ Mật hổ, mật Hổ chữa bị đánh trọng thương, gần chết không ăn uống gì được, huyết ứ lại, đại tiểu tiện bí, nguy hiểm. Cách chế là bóc lớp da ngoài, nghiền nhỏ ngâm vào dấm thanh, hòa bột Phục linh uống với Rượu, Mật hổ cũng chữa được các chứng cam, kiết lỵ, kinh giản trẻ con, uống với nước sôi nguội. . Hổ tu’ Râu hổ, chữa đau sâu răng, dùng râu Hổ xỉa răng là khỏi. . Hổ trảo’ Vuốt hổ, vuốt và lông ngón chân hổ đều dùng được, nhưng dùng thứ của con đực thì mới hay, kinh nghiệm dân gian thường lấy vuốt và lông bịt bạc cho trẻ con đeo trừ được tà khí. Sách Ngoại Đài Bí Yếu’ cho rằng vuốt hổ tránh quỷ mị. Lấy vuốt Hổ, Giải trảochân con cua Xích hùng hoàng, 3 vị đều tán bột hòa với nhựa thông làm thành viên, vào ngày mùng 1 đầu năm đốt lấy khói như hương, quanh năm có thể trừ được tà khí ác độc. . Hổ nha’ Răng hổ mài lấy nước bôi, chữa đàn ông lở ở hai bẹn, mụn nhọt có lỗ hõm vào. Đời Minh, sách Bản Thảo Cương Mục’ của Lý Thời Trân ghi rằng, răng Hổ cạo lấy bột hòa với Rượu uống chữa chó dại cắn và trừ lao trùng. . Hổ bì, Cao tỳ’ Da hổ da Hổ chữa cơn sốt rét, Bản Thảo Cương Mục’, Lý Thời Trân nói rằng Da Hổ trừ được tà khí, da đốt thành than tán bột. Nhưng phải cẩn thận chú ý làm cho hết lông. . Hổ là chúa của các loại thú rừng ở phía tây, cho nên thông với khí của hành kim, phong theo Hổ, Hổ gầm mà sinh phong, phong thuộc hành mộc, Hổ thuộc hành kim. Mộc bị kim chế làm sao mà chẳng theo, cho nên có thể vào tận trong xương mà đuổi phong, khỏe gân mạnh xương, nhưng Hổ khỏe dữ lắm chỉ nhờ ống chân trước, vì khi nó chết mà chân vẫn thẳng không ngã, cho nên xương ống chân mạnh gấp trăm lần so với xương ở nơi khác, mượn khí hữu dư của nó để bổ cho các chứng bệnh bất túc, vị cay hơn nóng đã ẩm thụ khí dữ tợn, lại có công năng tân tán cho nên dùng để đuổi tà trừ ác, kinh giản, bệnh điên, và chạy từ gân suốt tới xương nếu đau ở eo lưng và lưng thì nên dùng xương sống Dược Phẩm Vậng Yếu. Bạn có thể xem thêm tuổi nào có thể dùng cao Hổ tại đây. Các phân biệt cao hổ thật giả xem tại đây.! Các Bạn có thể xem thêm các bệnh xương khớp tại đây! Hổ hiện đang là động vật quý hiểm, hiện tại nhà nước nghiêm cấm mua bán. Bạn đọc cần tư vấn tác dụng hay có đóng góp gì xin gọi hoặc nhăn tin zalo với bác sĩ 0974070485 Đăng nhập
Thú ăn thịt, cỡ lớn, to và khỏe, nặng 100- 150 kg. Thân thẳng, dài 1,3 – 1,6m. Đầu to, cổ và tai ngắn, mắt sáng, chân dài khỏe, có móng vuốt nhọn và sắc. Đuôi dài 0,6m – 0,7m. Bộ lông màu vàng nhạt đến vàng sẫm hơi nâu, có vằn đen hoặc nâu đen, toàn đuôi có vòng nâu đen không đều. Phía bụng, sau tai, cằm và họng màu trắng nhạt. Còn có hổ bạch rất hiếm. Căn cứ vào các đặc tính của hình thái, màu sắc, đường vằn, bộ lông, các nhà khoa học đã phân chia hổ thành 8 giống khác nhau. Đó là Panthera tigrisaltaica hổ Sibêri, Amua và Đông Bắc Trung Quốc, P. tigris amoyensis hổ Nam Trung Quốc, P. tigris corbetti hổ Đông Dương, P. tigris sumatrae hổ sumatra, P. tigris tigris hổ Bengal và 3 giống bị tuyệt chủng là Panthera tigris balica, P. tigris sondaica, P. tigris đang xem Tác dụng của mỡ hổ2. Phân bố, sinh tháiTrên thế giới, hổ phân bố ở châu Âu Liên Xô trước đây và Châu Á Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam,Ở Việt Nam, hổ có mặt ở khắp các tỉnh miền núi trong cả nước. Nhưng do săn bắn nhiều và qua các thời kỳ chiến tranh ở miền Bắc và miền Nam, số lượng hổ đã giảm sút nghiêm trọng, chỉ còn rất ít ở vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt – Lào. Sau đó, người ta lại thấy nó xuất hiện lại ở một số địa phương như Lâm Đồng, Nghệ An, Quảng Trị Hổ sống chủ yếu ở các khu rừng già, có nhiều cỏ tranh, lau lách, cây bụi. Thường sống đơn độc và đi kiếm mồi vào ban đêm. Thức ăn của hổ là hươu nai, hoảng, lợn rừng, bò tót, trâu rừng, đôi khi cả bò, lợn, dê nuôi và những vật rất nhỏ như chim, cá, ếch, bò sát. Mùa sinh sản của hổ không cố định hổ cái và hổ đực ghép đôi trong thời kỳ động dục đến khi có thai. Thời gian có chửa khoảng 3 tháng rưỡi. Mỗi lứa đẻ 2 – 4 con. Hổ con rời mẹ, sống tự lập sau 2 năm tuổi trở lên. Hổ có khả năng trèo cây thường ít trèo, chỉ khi gặp nguy hiển, bơi lội và nhảy xa. Có thể nói hổ là một con vật khỏe và táo tợn nhất ở rừng núi, được mệnh danh là “chúa sơn lâm”.Từ lâu, hổ đã được thuần dưỡng từ nhỏ để làm xiếc, được nuôi trong vườn Bộ phận dùngToàn bộ xương hổ gọi là hổ cốt, được coi là loại tốt với những tiêu chuẩn, quy cách như sauGồm đầy đủ các loại xương chi tiết, còn nguyên không vỡ vụnKhông lẫn xương các loài thú khác. chất chắc khô, trong rỗng, màu vàng lượng từ 7 kg trở đó, quý hơn cả là xương 4 chân và xương đầu chiếm hơn 60% trọng lượng, đặc biệt hai xương cánh chân trước, mỗi chiếc hơi vặn ở khuỷu, có một lỗ gọi là mắt phượng hay thông thiên và răng hàm có 3 đình nhô lên gọi là “tam sơn” điểm khác biệt với các loại xương khác.Người ta đã nghiên cứu và quy định một bộ xương hổ phải đạt những yêu cầu sauXương đầu nặng 1000 gXương 4 chân 3390 gXương sống 900 gXương sườn 355 gXương chậu 355 gXương bả vai 260 đuôi 146 gXương bánh chè 30 gXương hổ bị trúng thuốc độc có màu đen hoặc xanh lam không được nấu cao xương hổ cao hổ cốt Chọn xương bằng cách kiểm tra kỹ các loại xương chi tiết trong toàn bộ xương hổ cho đủ, đúng quy cách và đúng trọng lượng. Thông thường theo kinh nghiệm dân gian, người ta hay phối hợp xương hổ với xương gấu, khỉ, sơn dương nhất là sơn dương, với 5 bộ xương sơn dương và 2 bộ xương hổ gọi là “ngũ dương nhị hổ”, hoặc các dược liệu nguồn gốc thực vật. Về vấn đề này, quan niệm có khác nhau. Người thì cho rằng phải có sự hiệp đồng tác dụng giữa các vị chủ lực quân và một số vị hỗ trợ thần. Có người lại nghĩ rằng riêng cao hổ thì mềm, khó bảo quản, mà phải phối hợp để cao có thể chất chắc, cứng, đóng được thành bánh. Đem xương đun sôi với nước trong 30 phút có nơi còn thêm ít lá đu đủ, khuấy lộn xương cho róc hết thịt và gân còn bám dính. Lấy ra, dùng bàn chải tre hoặc lông thép cọ mạnh cho thật sạch , rồi rửa nhiều lần với nước sạch Xương làm sạch được phơi nắng to hay sấy ở 50 – 60°C cho khô. Lúc này, xương có màu trắng và không còn mùi tanh hôi. Ngày trước, người ta bỏ xương còn dính thịt và gân vào một rọ tre, để chỗ nước suối chảy xiết trong 15 – 20 ngày để rửa trôi hết gân thịt, sau đó, treo rọ lên cành cây cho khô. Làm như vậy để loại bỏ các khí xấu khu phong, có lẽ để bay hết mùi hôi thối, Cưa xương thành từng đoạn 10 cm, chẻ nhỏ, nạo hết tủy và lớp xương xốp ở trong, rửa sạch rồi ngâm tẩm. Trước đây, người ta dùng nước luộc rau cải hoặc nước lá ngải cứu có nơi dùng lá trầu không để ngâm xương trong một ngày, một đêm, rồi rửa lại nhiều lần bằng nước, sau đó, tẩm xương với rượu gừng. Hiện nay, người ta chỉ ngâm rượu gừng với lý lẽ 50 kg xương, 1 kg gừng và 5 lít rượu 40 độXếp xương vào thùng nhôm, đổ nước cho ngập vài centimet. rồi nấu như nấu cao ra, xương hổ đặc biệt là xương cánh chân trước và xương đầu sao vàng hoặc tẩm dầu vừng du hổ cốt, tẩm giấm thố hổ cốt tán nhỏ thành bột, cũng được dùng Thịt hổ và dạ dày hổ được dùng theo các sách thuốc cổ Việt Nam. Nhiều bộ phận khác như thận, gân, mật hổ… lại có tác dụng chữa bệnh theo tài liệu nước ngoài.Xem thêm Cách Chọn Tuổi Khai Trương Cửa Hàng Khai Trương Đúng Và Chính Xác4. Thành phần hóa họcXương hổ chứa protid và calci dưới dạng Tính vị, công năngXương hổ và cao hổ cốt có vị mặn, cay, hơi tanh. tính ấm, vào hai kinh thận và can, có tác dung bổ dương, trục phong hàn, mạnh gân cốt, giảm đau nhức, trừ hổ có vị ngọt, hơi chua, tính bình, không độc, có tác dụng trừ tà, ích khí, chống sốt rét ngã nước, manh tinh Công dụngXương hổ, nhất là cao hổ cốt, là vị thuốc cổ điển trong y học cổ truyền, có giá trị cao, chữa bệnh đau nhức gân Xương, tê thấp, cơ thể suy yếu, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, thoái hóa cột sống. Liều dùng hàng ngày. 10 – 20 g xương chưa chế biến dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống, 4 – 8 g cao hổ cốt uống với гượuMặc dầu trong cao hổ cốt đã có một số dược liệu nguồn gốc thực vật, nhưng khi ngâm rượu cao hổ cốt. vẫn có thể thêm các vị cùng tác dụng như thiên niên kiện, cốt toái bổ, đỗ trọngTuệ Tĩnh Nam dược thần hiệu đã dùng xương hổ trong những trường hợp sauChữa lưng, chân tê liệt, co rút đau đớn, xương ống chân hổ, xương sống hổ, đều bằng nhau, đập nát, nướng vàng, ngâm rượu, để gần bếp cho nóng 7 ngày, rồi uống đến khi đại tiện được thì cước khí Xương hổ đau lưng thì dùng Xương sống, đau chân thì dùng xương ống chân đập vỡ, bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, tán bột, ngâm rượu khi dùng hâm rượu cho nóng mà đau nhức khớp xương Xương đầu hổ bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, giã nhỏ, ngâm rượu trong 5 ngày đêm rồi ống chẩn lở loét Xương hổ tán bột. Rắc và vết lở sau khi đã rửa sạch bằng nước vò lá bỏng lửa chưa phồng da Xương hổ đốt cháy, tán bột, trộn với lòng trắng trứng gà, bôi hàng Tĩnh còn dùng thịt hổ chữa sốt rét, nôn ọe. Mắt hổ sấy khô, tán nhỏ, hòa với nước cho đặc cho trẻ uống chữa co giật, mất trợn, chân tay co Thượng Lãn Ông lại dùng dạ dày hổ chữa được chứng phiên vị; răng hổ chữa chó dại cắnKiêng kỵ Những người huyết hư, hỏa vương, không được dùng các sản phẩm từ hổ mụn nhọt và chứng mỏi mệt sỏi thận hổ chữa suy nhược cơ thể lâu ngày, đuôi hổ chữa các bệnh về da máu hổ tăng cường tinh thần và thể lực, răng hổ chữa bệnh cuồng điên, hen suyễn, mũi hổ chữa chứng động kinh và co giật ở trẻ em, lông hổ đốt khói xua đuổi rắn, rết, râu mép hổ chữa đau răng; dạ dày hổ chữa đau dạ dày – tá chúDo có giá trị cao về mặt y học, nên cao hổ cốt thường bị giả mạo bằng cao nấu từ các loại xương động vật khác. Hiện nay, rất khó có được cao hổ cốt chính hiệu với cách chế biến công phu như sách cổ đã ghi. Trong dân gian, người ta đã thử một số cách để phân biệt cao thật và cao giả, như nếu là cao hổ thật thì ngọn cỏ non cắm trên mặt cao phải héo úa, chó gửi cao phải bỏ chạy và người uống cao thấy có một luồng nóng chạy khắp cơ thể. Hoặc cho chó tiếp xúc với bộ xương hổ, chó sẽ rên hư hử và rúm ró toàn thân Đó là những điều khó có thể tin . Hổ đã được đưa vào sách đỏ của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tại Hội nghị quốc tế diễn ra ở Washington Mỹ tháng 12 năm chức bảo vệ động vật hoang dã WWF đã thông báo số lượng hổ trên thế giới giảm từ con xuống còn khoảng 5000 – 7000 con. Riêng hổ Bengal, từ con năm 1900 giảm còn con năm 1999. Những nước có hổ đều đã có pháp lệnh cấm săn bắn Liên Xô trước đây, Trung Quốc, Hàn Quốc, Iran và cấm xuất khẩu da hổ Ấn Độ, Pakistan, Nepal.
Mục lụcMô tảPhân bố, sinh tháiBộ phận dùngThành phần hóa họcTính vị, công năngCông dụng Mô tả Thú ăn thịt, cỡ lớn, to và khỏe, nặng 100- 150 kg. Thân thẳng, dài 1,3 – 1,6m. Đầu to, cổ và tai ngắn, mắt sáng, chân dài khỏe, có móng vuốt nhọn và sắc. Đuôi dài 0,6m – 0,7m. Bộ lông màu vàng nhạt đến vàng sẫm hơi nâu, có vằn đen hoặc nâu đen, toàn đuôi có vòng nâu đen không đều. Phía bụng, sau tai, cằm và họng màu trắng nhạt. Còn có hổ bạch rất hiếm. Căn cứ vào các đặc tính của hình thái, màu sắc, đường vằn, bộ lông, các nhà khoa học đã phân chia hổ thành 8 giống khác nhau. Đó là Panthera tigrisaltaica hổ Sibêri, Amua và Đông Bắc Trung Quốc, P. tigris amoyensis hổ Nam Trung Quốc, P. tigris corbetti hổ Đông Dương, P. tigris sumatrae hổ sumatra, P. tigris tigris hổ Bengal và 3 giống bị tuyệt chủng là Panthera tigris balica, P. tigris sondaica, P. tigris vigata. Phân bố, sinh thái Trên thế giới, hổ phân bố ở châu Âu Liên Xô trước đây và Châu Á Ấn Độ, Trung Quốc, Myanma, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, Ở Việt Nam, hổ có mặt ở khắp các tỉnh miền núi trong cả nước. Nhưng do săn bắn nhiều và qua các thời kỳ chiến tranh ở miền Bắc và miền Nam, số lượng hổ đã giảm sút nghiêm trọng, chỉ còn rất ít ở vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt – Lào. Sau đó, người ta lại thấy nó xuất hiện lại ở một số địa phương như Lâm Đồng, Nghệ An, Quảng Trị Hổ sống chủ yếu ở các khu rừng già, có nhiều cỏ tranh, lau lách, cây bụi. Thường sống đơn độc và đi kiếm mồi vào ban đêm. Thức ăn của hổ là hươu nai, hoảng, lợn rừng, bò tót, trâu rừng, đôi khi cả bò, lợn, dê nuôi và những vật rất nhỏ như chim, cá, ếch, bò sát. Mùa sinh sản của hổ không cố định hổ cái và hổ đực ghép đôi trong thời kỳ động dục đến khi có thai. Thời gian có chửa khoảng 3 tháng rưỡi. Mỗi lứa đẻ 2 – 4 con. Hổ con rời mẹ, sống tự lập sau 2 năm tuổi trở lên. Hổ có khả năng trèo cây thường ít trèo, chỉ khi gặp nguy hiển, bơi lội và nhảy xa. Có thể nói hổ là một con vật khỏe và táo tợn nhất ở rừng núi, được mệnh danh là “chúa sơn lâm”. Từ lâu, hổ đã được thuần dưỡng từ nhỏ để làm xiếc, được nuôi trong vườn thú. Bộ phận dùng Toàn bộ xương hổ gọi là hổ cốt, được coi là loại tốt với những tiêu chuẩn, quy cách như sau Gồm đầy đủ các loại xương chi tiết, còn nguyên không vỡ vụn Không lẫn xương các loài thú khác. chất chắc khô, trong rỗng, màu vàng ngà. Trọng lượng từ 7 kg trở lên. Trong đó, quý hơn cả là xương 4 chân và xương đầu chiếm hơn 60% trọng lượng, đặc biệt hai xương cánh chân trước, mỗi chiếc hơi vặn ở khuỷu, có một lỗ gọi là mắt phượng hay thông thiên và răng hàm có 3 đình nhô lên gọi là “tam sơn” điểm khác biệt với các loại xương khác. Người ta đã nghiên cứu và quy định một bộ xương hổ phải đạt những yêu cầu sau Xương đầu nặng 1000 g Xương 4 chân 3390 g Xương sống 900 g Xương sườn 355 g Xương chậu 355 g Xương bả vai 260 g. Xương đuôi 146 g Xương bánh chè 30 g Xương hổ bị trúng thuốc độc có màu đen hoặc xanh lam không được dùng. Cách nấu cao xương hổ cao hổ cốt Chọn xương bằng cách kiểm tra kỹ các loại xương chi tiết trong toàn bộ xương hổ cho đủ, đúng quy cách và đúng trọng lượng. Thông thường theo kinh nghiệm dân gian, người ta hay phối hợp xương hổ với xương gấu, khỉ, sơn dương nhất là sơn dương, với 5 bộ xương sơn dương và 2 bộ xương hổ gọi là “ngũ dương nhị hổ”, hoặc các dược liệu nguồn gốc thực vật. Về vấn đề này, quan niệm có khác nhau. Người thì cho rằng phải có sự hiệp đồng tác dụng giữa các vị chủ lực quân và một số vị hỗ trợ thần. Có người lại nghĩ rằng riêng cao hổ thì mềm, khó bảo quản, mà phải phối hợp để cao có thể chất chắc, cứng, đóng được thành bánh. Đem xương đun sôi với nước trong 30 phút có nơi còn thêm ít lá đu đủ, khuấy lộn xương cho róc hết thịt và gân còn bám dính. Lấy ra, dùng bàn chải tre hoặc lông thép cọ mạnh cho thật sạch , rồi rửa nhiều lần với nước sạch Xương làm sạch được phơi nắng to hay sấy ở 50 – 60°C cho khô. Lúc này, xương có màu trắng và không còn mùi tanh hôi. Ngày trước, người ta bỏ xương còn dính thịt và gân vào một rọ tre, để chỗ nước suối chảy xiết trong 15 – 20 ngày để rửa trôi hết gân thịt, sau đó, treo rọ lên cành cây cho khô. Làm như vậy để loại bỏ các khí xấu khu phong, có lẽ để bay hết mùi hôi thối, Cưa xương thành từng đoạn 10 cm, chẻ nhỏ, nạo hết tủy và lớp xương xốp ở trong, rửa sạch rồi ngâm tẩm. Trước đây, người ta dùng nước luộc rau cải hoặc nước lá ngải cứu có nơi dùng lá trầu không để ngâm xương trong một ngày, một đêm, rồi rửa lại nhiều lần bằng nước, sau đó, tẩm xương với rượu gừng. Hiện nay, người ta chỉ ngâm rượu gừng với lý lẽ 50 kg xương, 1 kg gừng và 5 lít rượu 40 độ Xếp xương vào thùng nhôm, đổ nước cho ngập vài centimet. rồi nấu như nấu cao dê. Ngoài ra, xương hổ đặc biệt là xương cánh chân trước và xương đầu sao vàng hoặc tẩm dầu vừng du hổ cốt, tẩm giấm thố hổ cốt tán nhỏ thành bột, cũng được dùng Thịt hổ và dạ dày hổ được dùng theo các sách thuốc cổ Việt Nam. Nhiều bộ phận khác như thận, gân, mật hổ… lại có tác dụng chữa bệnh theo tài liệu nước ngoài. Thành phần hóa học Xương hổ chứa protid và calci dưới dạng phosphat. Tính vị, công năng Xương hổ và cao hổ cốt có vị mặn, cay, hơi tanh. tính ấm, vào hai kinh thận và can, có tác dung bổ dương, trục phong hàn, mạnh gân cốt, giảm đau nhức, trừ thấp. Thịt hổ có vị ngọt, hơi chua, tính bình, không độc, có tác dụng trừ tà, ích khí, chống sốt rét ngã nước, manh tinh thần. Xương hổ, nhất là cao hổ cốt, là vị thuốc cổ điển trong y học cổ truyền, có giá trị cao, chữa bệnh đau nhức gân Xương, tê thấp, cơ thể suy yếu, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, thoái hóa cột sống. Liều dùng hàng ngày. 10 – 20 g xương chưa chế biến dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống, 4 – 8 g cao hổ cốt uống với гượu Mặc dầu trong cao hổ cốt đã có một số dược liệu nguồn gốc thực vật, nhưng khi ngâm rượu cao hổ cốt. vẫn có thể thêm các vị cùng tác dụng như thiên niên kiện, cốt toái bổ, đỗ trọng Tuệ Tĩnh Nam dược thần hiệu đã dùng xương hổ trong những trường hợp sau Chữa lưng, chân tê liệt, co rút đau đớn, xương ống chân hổ, xương sống hổ, đều bằng nhau, đập nát, nướng vàng, ngâm rượu, để gần bếp cho nóng 7 ngày, rồi uống đến khi đại tiện được thì thôi. Chữa cước khí Xương hổ đau lưng thì dùng Xương sống, đau chân thì dùng xương ống chân đập vỡ, bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, tán bột, ngâm rượu khi dùng hâm rượu cho nóng mà uống. Chữa đau nhức khớp xương Xương đầu hổ bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, giã nhỏ, ngâm rượu trong 5 ngày đêm rồi uống. Chữa ống chẩn lở loét Xương hổ tán bột. Rắc và vết lở sau khi đã rửa sạch bằng nước vò lá hẹ. Chữa bỏng lửa chưa phồng da Xương hổ đốt cháy, tán bột, trộn với lòng trắng trứng gà, bôi hàng ngày. Tuệ Tĩnh còn dùng thịt hổ chữa sốt rét, nôn ọe. Mắt hổ sấy khô, tán nhỏ, hòa với nước cho đặc cho trẻ uống chữa co giật, mất trợn, chân tay co quắp. Hải Thượng Lãn Ông lại dùng dạ dày hổ chữa được chứng phiên vị; răng hổ chữa chó dại cắn Kiêng kỵ Những người huyết hư, hỏa vương, không được dùng các sản phẩm từ hổ mụn nhọt và chứng mỏi mệt sỏi thận hổ chữa suy nhược cơ thể lâu ngày, đuôi hổ chữa các bệnh về da máu hổ tăng cường tinh thần và thể lực, răng hổ chữa bệnh cuồng điên, hen suyễn, mũi hổ chữa chứng động kinh và co giật ở trẻ em, lông hổ đốt khói xua đuổi rắn, rết, râu mép hổ chữa đau răng; dạ dày hổ chữa đau dạ dày – tá tràng. Ghi chú Do có giá trị cao về mặt y học, nên cao hổ cốt thường bị giả mạo bằng cao nấu từ các loại xương động vật khác. Hiện nay, rất khó có được cao hổ cốt chính hiệu với cách chế biến công phu như sách cổ đã ghi. Trong dân gian, người ta đã thử một số cách để phân biệt cao thật và cao giả, như nếu là cao hổ thật thì ngọn cỏ non cắm trên mặt cao phải héo úa, chó gửi cao phải bỏ chạy và người uống cao thấy có một luồng nóng chạy khắp cơ thể. Hoặc cho chó tiếp xúc với bộ xương hổ, chó sẽ rên hư hử và rúm ró toàn thân Đó là những điều khó có thể tin . Hổ đã được đưa vào sách đỏ của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tại Hội nghị quốc tế diễn ra ở Washington Mỹ tháng 12 năm 1997. Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã WWF đã thông báo số lượng hổ trên thế giới giảm từ con xuống còn khoảng 5000 – 7000 con. Riêng hổ Bengal, từ con năm 1900 giảm còn con năm 1999. Những nước có hổ đều đã có pháp lệnh cấm săn bắn Liên Xô trước đây, Trung Quốc, Hàn Quốc, Iran và cấm xuất khẩu da hổ Ấn Độ, Pakistan, Nepal. *Nguồn Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam.
công dụng của mỡ hổ